Hòa Thượng Thích Thanh Từ : Thiền viện Trúc Lâm là lý tưởng tối hậu trong đời tu của tôi

Tại sao tôi đã tuyên bố: “Thiền viện Trúc Lâm là lý tưởng tối hậu trong đời tu của tôi?”


Bởi vì trước kia tôi đã từng ở tại các Phật học đường, và sau này cũng đi dạy ở các Phật học đường, giao tiếp với chư tăng, chư ni mọi nơi. Tôi thấy rõ, trong giới tu sĩ Phật giáo chúng ta thường có cái bệnh là thiếu hòa hợp. Bởi thiếu hòa hợp, cho nên ở nơi nào cũng thường xảy ra những chuyện vui buồn đáng tiếc. Vì vậy, tôi thấy đó là một nỗi buồn ! Lại nữa, tôi nhìn thấy tăng ni ở các Phật học viện cũng như các nơi, phần lớn bị vấn đề kinh tế chi phối. Vì phải lo cho có ăn, có mặc và có những phương tiện học tập, mà tăng ni không còn đủ thời gian để tu, để học. Tôi lại thấy tăng ni chúng ta, vì những việc bên ngoài lôi cuốn rồi phải chạy theo; bị chi phối rất lớn bởi những đám tiệc của Phật tử, bởi những lễ lượt trong chùa và khách khứa từ thân nhân huynh đệ qua lại tới lui với nhau, làm mất hết bao nhiêu thời gian quí báu trong lúc tu hành cũng như học tập. Vì vậy mà tôi rất đáng tiếc!

Sau này, tôi thành lập được Thiền viện Chơn Không, Thiền viện Thường Chiếu; nhất là khi xuống Thường Chiếu tôi thấy có một trở ngại cho sự tu Thiền, vì ở đó nóng bức quá. Mỗi buổi chiều ngồi thiền thì mồ hôi ướt áo, buổi tối cũng vậy. Cho nên tôi thấy rằng, tuy muốn cho Tăng Ni có thời gian tu, nhưng lại bị trở ngại về khí hậu, thời tiết nên tôi rất buồn. Vì những lý do đó, nên sau khi được phép chánh quyền cho thành lập Thiền viện Trúc Lâm, tôi nghĩ tôi phải thực hiện cho được những điều trước kia tôi thấy chưa hài lòng. Khi Thiền viện Trúc Lâm đã thành tựu, có tăng ni tụ họp tu hành thì tôi lập bản Thanh Qui ( hay Nội Qui); trong đó điều kiện tiên quyết, là tôi bắt tăng ni ở đây phải thực hiện cho được phép sống Lục Hòa. Bởi vì chúng ta là người tu, là người hướng dẫn, chỉ dạy cho Phật tử tu hành… Nếu nội bộ mình không hòa thuận, không có vui vẻ với nhau thì chúng ta dạy ai, hướng dẫn ai để họ tu hành? Cho nên tôi lấy Lục Hoà làm cái then chốt trong cuộc sống của người tu sĩ. Đó là điều thiết yếu. Vì vậy, tôi yêu cầu tăng ni hai bên phải cố gắng thực hiện cho được pháp Lục Hoà mà tôi cho là tối quan trọng.

Kế đó là tôi thấy rằng, tăng ni vì bận sự sống mà mất thời gian tu. Cho nên khi thành lập Thiền viện Trúc Lâm tôi đòi hỏi tăng ni phải dồn hết thời giờ trong sự tu hành. Muốn được như vậy, thì mọi nhu cầu về ăn, mặc, thuốc men … Thiền viện chúng tôi chịu trách nhiệm hết: lo cho tăng ni đủ ăn, đủ mặc, bệnh hoạn có thuốc thang… để cho tăng ni không còn bận tâm về tài chánh. Nhờ không bận tâm về tài chánh, nên yên ổn tu hành, mới mong có những tiến bộ. Đó là điều thứ hai.

Thứ ba là, tôi biết sự giao thiệp qua lại tới lui sẽ chiếm mất thời gian tu hành của tăng ni. Cho nên tôi quyết tâm ngang đây, những vị nào phát nguyện vào Thiền viện tu hành, thì phải gìn giữ điều kiện không được đi nơi này nơi kia, chỉ một hai trường hợp đặc biệt mới được đi, đó là hạn chế sự đi lại. Hơn nữa, ở đây Phật tử cúng kính, cầu nguyện chỉ tới ghi tên, rồi chư tăng chư Ni trong buổi Sám hối nguyện cầu cho, chứ không đi đám chỗ này chỗ kia mất thời gian tu của tăng ni. Đó là điều thứ ba.

Điều thứ tư, tôi thấy nơi đây khí hậu mát mẻ, yên tĩnh, cho nên tôi nghĩ chư tăng chư ni tọa Thiền ban ngày vào buổi chiều cũng tốt, chứ không đến nỗi phải đổ mồ hôi. Rồi buổi tối, buổi khuya mát mẻ thì tu hành có thể dễ tiến. Vì tôi thấy trong sử đã kể lại rằng, Đức Phật Thích Ca chúng ta ngồi tu dưới cội bồ đề vào tháng mùa đông, do đó mà sau 49 ngày đêm tọa Thiền thì Ngài được giác ngộ. Tôi thấy khí hậu mát mẻ nhất là buổi khuya, khí trời thanh sảng, chúng ta ngồi Thiền đem lại nhiều kết quả rất tốt đẹp, cho nên tôi mới chủ trương phải ngồi Thiền nhiều, mà nhất là buổi khuya.

Đó là những điều mà trước kia tôi thấy nó làm trở ngại cho tăng ni tu hành khó tiến bộ. Cho nên, khi thành lập Thiền viện Trúc Lâm, những trở ngại đó tôi quyết tâm vượt qua, để tạo điều kiện cho tăng ni tu đến nơi đến chốn. Khi thành lập Thiền viện Trúc Lâm, tôi tin rằng sẽ tạo đủ điều kiện cho tăng ni tu hành được tiến bộ, thì đó là mãn nguyện của chúng tôi. Vì vậy mà Thiền viện Trúc Lâm, tôi cho là lý tưởng tối hậu ở chỗ đó. Lý tưởng tối hậu không phải đời tôi tới đây là chấm dứt, không truyền bá, không làm Phật sự, mà tối hậu là vì những hoài bão ôm ấp từ trước đến đây tôi thực hiện được. Tôi làm được những gì mà trước kia tôi thấy còn thiếu sót nơi tôi, tôi bổ túc lại cho đầy đủ. Đó là cái mãn nguyện của tôi.

Nhưng nói như vậy, không phải chỉ tôi là người có trách nhiệm, còn tất cả tăng ni ở đây không có bổn phận. Bởi vì tôi làm trách nhiệm của người đi trước, của người dẫn đường. Tăng ni ở đây là người được hướng dẫn, được chỉ dạy, thì tôi làm tròn trách nhiệm của tôi rồi. Tôi mong rằng tất cả tăng ni cũng thấy bổn phận của mình, phải làm sao cho cân xứng với sự lo lắng của tôi, trông đợi của tôi, thì tăng ni mới làm tròn bổn phận của mình. Như vậy thì mới gọi là sự tương ưng giữa thầy trò, mà ngày xưa tôi dùng chữ là: “Sư tư” đều thông cảm với nhau; Sư là thầy, tư là đệ tử, được thông cảm, được chung sức với nhau để truyền bá chánh pháp, duy trì mạng mạch của đạo được lâu bền. Đó là những điều rất thiết yếu. Cho nên tôi nghĩ rằng tất cả tăng ni ở tại Thiền viện Trúc Lâm, quí vị nghĩ: chúng ta ở trong thời mà nhà Phật thường gọi là thời mạt pháp – khó gặp thầy, khó gặïp được bạn, tức là những hàng thiện tri thức để hướng dẫn mình tu đó là một cái khó. Rồi khó đủ thắng duyên, trên đường tu hành luôn luôn bị trở ngại, bị nhiều chướng… Giờ đây, ở nơi Thiền viện này thì quí vị có đầy đủ: trên thì có thầy, bên cạnh thì có bạn, rồi mọi nhu cầu để đủ điều kiện tu, rất là đầy đủ tiện nghi không thiếu. Như vậy, còn cái gì nữa mà chúng ta không nỗ lực, chúng ta không cố gắng tu hành cho đạt được kết quả đúng như sở nguyện của mình. Bởi vì tôi thường than rằng: Người tu không ai là xấu cả, ai cũng là người tốt. Nhưng khi vào đạo gặp duyên không thuận, duyên không tốt, lần lần trở thành người xấu, người dở. Đó là tại vì cái duyên không có giúp đỡ để cho họ tiến tu dễ dàng. Thì ở đây, tôi chịu khó tạo đủ duyên cho tăng ni tu, không còn lý do gì mà quí vị than rằng: vì nhiều trở ngại, vì nhiều chướng duyên nên tu không được.

Như vậy thì, sự tu hành của quí vị trong thời này, trong hoàn cảnh này nó rất thuận lợi, rất đầy đủ duyên tốt. Vậy quí vị phải ráng nỗ lực, tận tâm cố gắng tu hành. Làm sao cho đời của mình đã nguyện xuất gia, đã cầu giải thoát sanh tử, thì quí vị phải làm. Dù không trọn vẹn, ít ra cũng đi được một phần ba, hoặc hai phần đường trên đời tu của mình, chứ đừng để nó dở dang, đừng để nó lui sụt. Được như vậy mới xứng đáng là người xuất gia, nguyện tu hành cho được thành đạt đạo quả. Còn không như vậy, thì uổng đi một đời. Đó là lời nhắc nhở và nói rõ sở nguyện của tôi.


Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.


Hòa Thượng đã thành lập các Thiền Viện khắp nơi trên thế giới 

– Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ – Vũng Tàu, thành lập tháng 4-1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995.
– Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành, tỉnh Đồng Nai, thành lập tháng 8-1974.
– Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành, tỉnh Đồng Nai, thành lập tháng 4-1975.
– Thiền viện Huệ Chiếu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thành lập tháng 4-1979.
– Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành, tỉnh Đồng Nai, thành lập tháng 2-1980.
– Thiền viện Phổ Chiếu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thành lập tháng 6-1980.
– Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 7- 1987.
– Thiền viện Liễu Đức, Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
– Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, thành lập tháng 4- 1993.
– Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh thành lập 2002.
– Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
– Thiền viện Hương Hải, Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
– Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
– Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
– Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Hoa Kỳ, thành lập năm 2001.
– Thiền viện Quang Chiếu, Forthworth, Texas, Hoa Kỳ, thành lập năm 2000.
– Thiền viện Bồ Đề, Boston, Hoa Kỳ, thành lập năm 2002.
– Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, Hoa Kỳ, thành lập năm 2002.
– Thiền tự Ngọc Chiếu, Garden Grove, California, Hoa Kỳ.
– Thiền tự Vô Ưu, San Jose, California, Hoa Kỳ.
– Thiền tự Đạo Viên, Québec, Canada, thành lập năm 2002.
– Thiền tự Thường Lạc (Pháp).
– Thiền tự Pháp Loa (Úc).
– Thiền tự Hiện Quang (Úc).
– Thiền tự Hỷ Xả (Úc).
– Thiền viện Tiêu Dao (Úc).
– Thiền tự Tuệ Căn (Úc).

( Và nhiều Thiền Viện khác đã được thành lập trong những năm gần đây. )

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *